Connecting global resources Launching Regional Foreign Language Centers Linking with ICT partners Innovating English teaching and learning

hat jemand erfahrung mit bdswiss

Online

We have 37 guests and no members online

Welcome, Guest
Username: Password: Remember me

TOPIC: Công tác xây dựng và quản lý bộ môn

Công tác xây dựng và quản lý bộ môn 2 years 3 weeks ago #3384

  • Lan trung
  • Lan trung's Avatar
  • Offline
  • Moderator
  • Posts: 3
  • Thank you received: 3
  • Karma: 0
Ngày 30/9/2008, Thủ tướng chính phủ đã ký quyết định 1400/QĐTTG phê duyệt đề án “dạy và học ngoại ngữ trong hệ thống giáo dục quốc dân 2008 – 2020”. Mục tiêu chung của đề án đã được xác định rõ ràng : “Đổi mới toàn diện việc dạy và học ngoại ngữ trong hệ thống giáo dục quốc dân, triển khai chương trình dạy và học ngoại ngữ mới ở các cấp học, trình độ đào tạo, nhằm đến năm 2015 đạt được một bước tiến rõ rệt về trình độ, năng lực sử dụng ngoại ngữ của nguồn nhân lực, nhất là đối với một số lĩnh vực ưu tiên, đến năm 2020 đa số thanh niên Việt Nam tốt nghiệp trung học, cao đẳng và đại học có đủ năng lực sử dụng ngoại ngữ độc lập, tự tin trong giao tiếp, học tập và làm việc trong môi trường hội nhập, đa ngôn ngữ, đa văn hóa; biến ngoại ngữ trở thành thế mạnh của người dân Việt Nam, phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước”.

Thực hiện tinh thần chỉ đạo này của Chính phủ, trong những năm qua, một phong trào dạy và học ngoại ngữ đã dấy lên ở tất cả các cấp học, các trình độ đào tạo, mang lại một bức tranh ngày càng sáng sủa hơn trong giáo dục ngoại ngữ trên bình diện cả nước. Trong khu vực ĐH- CĐ, khu vực trực tiếp nhất, cận kề nhất trong việc đào tạo và cung cấp nguồn nhân lực chất lượng cao cho nền kinh tế quốc dân, những đổi mới cũng diễn ra hết sức khẩn trương và sôi động, đổi mới từ đơn vị giáo dục đào tạo là nhà trường đến các khoa, các bộ môn và đến từng giảng viên. Trong tất cả các khâu ấy, bộ môn đóng vai trò vô cùng to lớn. Trong một nhà trường đại học, bộ môn là tế bào cơ sở, là nơi tập trung các hoạt động chính về chuyên môn, là nơi quyết định dạy và nghiên cứu khoa học. Cần hiểu rõ rằng khoa là đơn vị hành chính, là đơn vị kết nối giữa bộ môn và trường, còn bộ môn mới là nơi để các giảng viên sinh hoạt chuyên môn, thực hiện các nhiệm vụ chính trị của mình là giảng dạy và nghiên cứu khoa học. Nhiệm vụ xây dựng bộ môn mạnh luôn đặt ra cho tất cả các nhà trường. Bộ môn có mạnh thì khoa mới mạnh và khoa mạnh thì nhà trường sẽ mạnh. Uy tín khoa học, chuyên môn của một nhà trường phụ thuộc vào sự lớn mạnh của các bộ môn trong đó đội ngũ cán bộ giảng dạy giữ vai trò then chốt. Đổi mới căn bản và toàn diện là phải đổi mới từ bộ môn, đổi mới từ những con người, thành viên của từng bộ môn ấy. Với chức năng quản lý một số môn học có mối liên quan gần về học thuật trong một chương trình đào tạo, bộ môn trở thành xương sống cho sự tồn tại của một khoa, một trường. Bộ môn là nơi quản lý các hoạt đông chuyên môn sâu, đó là các hoạt đông về giảng dạy và nghiên cứu khoa học, chịu trách nhiệm về chất lượng đào tạo của khu vực bộ môn phụ trách, về uy tín khoa học trong chuyên môn hẹp này. Nói tóm lại, toàn bộ hoạt động học thuật của một nhà trường đại học nằm ở tế bào cơ sở đó là bộ môn.

Trong khuôn khổ bài viết này, chúng tôi muốn đề cập đến các nhiệm vụ cơ bản của bộ môn trong một trường đại học, cao đẳng, đó là các nhiệm vụ trong giảng dạy, về mặt chuyên môn và về mặt quản lý, các nhiệm vụ trong nghiên cứu khoa học và các nhiệm vụ của người đứng đầu bộ môn.

Trước hết nói về mặt giảng dạy.

Các nhiệm vụ chuyên môn của bộ môn giữ vai trò rất quan trọng. Có thể kể ra ở đây bảy nhiệm vụ chính:

- Nhiệm vụ đầu tiên là tham gia xây dựng chuẩn đầu ra của nhà trường. Chuẩn đầu ra này bao gồm nhiều mặt, thể hiện tầm nhìn và sứ mạng của một nhà trường, nhưng trong đó vấn đề chuyên môn là cốt lõi. Xây dựng chuẩn đầu ra về mặt chuyên môn, các giải pháp và lộ trình đề đạt đến chuẩn đầu ra đó là nhiệm vụ mà các bộ môn cần quán triệt và đầu tư trí tuệ hợp lý.

- Nhiệm vụ thứ hai là xây dựng đề cương chi tiết môn học. Đây là nhiệm cụ thể then chốt của bộ môn. Nhiệm vụ này đòi hỏi công sức đầu tư rất lớn của toàn bộ đội ngũ cán bộ giảng viên. Đối với giáo dục đại học, đề cương chi tiết là xương sống, từ đó mỗi giảng viên sẽ xây dựng bài giảng riêng của mình, với các học liệu và tài liệu giáo khoa đi kèm. Tổ chức xây dựng công phu các đề cương chi tiết môn học là nhiệm vụ hàng đầu của một bộ môn.

- Nhiệm vụ thứ ba là xây dựng giáo trình, bài giảng. Đây là nhiệm vụ được đặt lên vai của từng cá nhân giảng viên hoặc của một nhóm giảng viên. Ở đây, giảng viên phải kết hợp được kiến thức và kinh nghiệm của mình, lựa chọn được những gì tinh túy nhất, cập nhật nhất, nhưng lại là phù hợp nhất với mục tiêu đào tạo và thực tế Việt Nam, gắn kết được tri thức nhân loại và nhu cầu, yêu cầu của thực tiễn nhằm đào tạo ra những sản phẩm đáp ứng được cao nhất những đòi hỏi của thị trường lao động và các nhiệm vụ khoa học dài hơi. Các giáo trình bài giảng này còn cần được xây dựng sao cho tận dụng và khai thác tốt nhất các nguồn học liệu và ứng dụng sâu rộng nhất công nghệ thông tin.

- Nhiệm vụ thứ tư là xây dựng các nguồn học liệu.Giáo dục đại học cao đẳng hiện nay đòi hỏi sự hỗ trợ rất cao của nguồn học liệu. Một định hướng đào tạo chuyển từ đào tạo trang bị kiến thức sang đào tạo xây dựng năng lực đòi hỏi người học phải nỗ lực tự giác rất nhiều trong tự học, tự đào tạo. Cung cấp nguồn học liệu có giá trị cao, phù hợp với chương trình sẽ giúp người học hoàn thành tốt nhiệm vụ học tập, nghiên cứu của mình.

- Nhiệm vụ thứ năm là xây dựng phương pháp giảng dạy bộ môn tiên tiến, phù hợp, gắn chặt với khả năng khai thác trang thiết bị và các công nghệ dạy-học khác. Trong giáo dục đại học, phương pháp là chìa khóa để tiếp cận nhanh nhất, hiệu quả nhất khối kiến thức khổng lồ, để vận dụng tối ưu vào thực tiễn.

- Nhiệm vụ thứ sáu là xây dựng mô hình, phương thức kiểm tra-đánh giá tiên tiến, đánh giá quá trình và đánh giá kết quả. Kiểm tra-đánh giá giờ đây có nhiều mục đích khác nhau, không chỉ là kiểm tra kiến thức mà còn là một mắt xích để phát triển quá trình học, là phản hồi cho chất lượng dạy của giảng viên, là thông số để xem xét các vấn đề về chương trình, giáo trình, học liệu….

- Nhiệm vụ thứ bảy là trách nhiệm hướng dẫn sinh viên thực hiện các niên luận, khóa luận, bước đầu gắn học tập và nghiên cứu khoa học, những bước đi vào khoa học đầu tiên này của các em rất cần sự vào cuộc công tâm của các thầy.

Bên cạnh bảy nhiệm vụ về chuyên môn giảng dạy, bộ môn còn có bảy nhiệm vụ chính về quản lý giảng dạy. Đây cũng là một phần việc hết sức quan trọng, đòi hỏi sự đầu tư không kém phần thường xuyên của cán bộ quản lý bộ môn.

- Nhiệm vụ đầu tiên là xây dựng kế hoạch giảng dạy, xây dựng thời khóa biểu. Kế hoạch giảng dạy xây dựng hợp lý sẽ tạo sự chủ động rất lớn cho toàn bộ Bộ môn, bố trí giờ dạy và bố trí các hoạt động khác bên cạnh giờ dạy. Việc xây dựng kế hoạch này đòi hỏi kinh nghiệm cũng như sự học hỏi từ các đơn vị bạn, trong nước và ngoài nước.

- Nhiệm vụ thứ hai là lựa chọn và phân công cán bộ giảng dạy của môn học. Ở đây cần một cái nhìn chiến lược của người quản lý Bộ môn sao cho trong từng môn học tận dụng được tối ưu khả năng chuyên môn của đội ngũ đồng thời tạo cơ chế để những người đi trước dìu dắt những người đi sau, những người giỏi, có kinh nghiệm giảng dạy chia sẻ được với những người yếu hơn.

- Nhiệm vụ thứ ba là tổ chức sinh hoạt thường kỳ. Nhiệm vụ này có thể được coi là nhiệm vụ trọng tâm của hoạt động chuyên môn Bộ môn. Trong quá trình đào tạo của mình, không phải ai cũng có được khả năng chuyên môn ngang bằng nhau. Trong quá trình giảng dạy, không phải ai cũng nhận được những kết quả tốt đẹp như nhau. Vì vậy, sinh hoạt chuyên môn thường xuyên là giải pháp bắt buộc để khỏa lấp những thiếu hụt này. Cần có một quy trình tổ chức chặt chẽ, từ việc lên kế hoạch ngay từ đầu năm, xác định điểm mấu chốt, chủ đề chính của từng buổi sinh hoạt dựa trên thực tiễn và nhu cầu, đến việc tổ chức cụ thể một buổi sinh hoạt chuyên môn, nghiêm túc, dân chủ và đồng lòng, hướng đến điều tốt đẹp cho từng cá nhân và bộ môn.

- Nhiệm vụ thứ tư là tổ chức quan sát đồng nghiệp và cùng nhau hỗ trợ đồng nghiệp. Quy trình này hiện nay có nhiều mô hình khác nhau, tuy nhiên việc chuẩn bị kĩ càng và cùng nhau chia sẻ rút kinh nghiệm là hết sức cần thiết, quan trọng hơn cả việc thực hiện ở trên lớp. Đồng nghiệp bàn bạc, lựa chọn vấn đề để thực hành quan sát, làm những bản nhận xét tỉ mỉ trước khi thực hiện ở trên lớp, phân vai và nhiệm vụ cụ thể ghi hình, quan sát, điền bảng, rồi thảo luận sau tiết dạy sẽ mang lại những hiệu quả to lớn.

- Nhiệm vụ thứ năm là phân công cán bộ Bộ môn thực hiện các nhiệm vụ, các hoạt động khác của Khoa, của Trường. Bộ môn là một mắt xích chuyên môn nằm trong tổng thể của một Khoa và một Trường, cần tham gia vào các hoạt động khác ngoài chuyên môn của Khoa và của Trường. Nhiệm vụ này đôi khi bị lãnh đạo các bộ môn lơ là, coi đó không phải công việc của bộ môn. Thực ra phải hiểu rằng các hoạt động này mang lại sự phát triển toàn diện hơn cho từng cá nhân và cho cả bộ môn, cho mối quan hệ công tác, sự tương tác lẫn nhau và góp phần xây dựng uy tín của bộ môn trong Khoa và trong Trường.

- Nhiệm vụ thứ sáu là quan hệ với lãnh đạo Khoa và lãnh đạo nhà trường. Mối quan hệ khăng khít, cảm thông lẫn nhau hỗ trợ rất nhiều cho việc đi đúng hướng của Bộ môn, mặt khác tạo điều kiên cho Bộ môn phát triển, hỗ trợ được Khoa và Trường trong các nhiệm vụ khác, phát huy thế mạnh của thành viên trong Bộ môn. Tìm được sự hiểu biết và đồng thuận cao với lãnh đạo các cấp là một phẩm chất không thể thiếu được của lãnh đạo Bộ môn.

- Nhiệm vụ thứ bảy là hợp tác với bên ngoài Bộ môn. Bộ môn là hạt nhân hoạt động NCKH rất cần có mối quan hệ chuyên môn với các đơn vị khác trong và ngoài khoa, trong và ngoài trường, thậm chí trong và ngoài nước để hợp tác, liên kết phát triển chuyên môn của mình. Việc mở rộng hợp tác với bên ngoài Bộ môn không chỉ nhằm mục đích phát triển chuyên môn thuần túy mà những hợp đồng liên kết NCKH có thể mang lại những yếu tố kinh tế khác cho các giảng viên và cho Bộ môn.

Chúng ta vừa đề cập đến một trong hai nhiệm vụ chính của Bộ môn và của các giảng viên, đó là nhiệm vụ giảng dạy. Tuy nhiêm sự khác biệt cơ bản giữa giáo viên phổ thông và giảng viên đại học đó là hoạt động NCKH. Hoạt động NCKH có thể nói là thước đo uy tín và triển vọng phát triển của một Bộ môn. Chúng ta cũng có thể nêu ra ở đây bảy nhiệm vụ chính.

- Nhiệm vụ đầu tiên là xây dựng nề nếp và duy trì hoạt động học thuật của Bộ môn. Đó không chỉ là các buổi nghe thuyết trình Seminar mà còn là các buổi trao đổi học thuật bình thường giữa các thành viên của Bộ môn, chia sẻ cùng nhau nội dung một cuốn sách mới đọc, tranh luận một quan điểm khoa học hay phản biện một công trình. Điều quan trong nhất là xác định chủ đề và lên kế hoạch sinh hoạt chuyên môn cho từng buổi, và duy trì hoạt động này để nó trở nên đều đặn.

- Nhiệm vụ thứ hai mang tính chiến lược hơn, đó là tổ chức thảo luận để xác định phương hướng phát triển khoa học của Bộ môn, xác định nội dung trọng tâm của các chương trình nghiên cứu, lộ trình các giải pháp thực hiện thành công các chương trình nghiên cứu này. Không phải bao giờ đây cũng là một công việc dễ dàng, nó đòi hỏi sự đầu tư trí tuệ của cả một tập thể, suy xét về mặt lí luận và về mặt thực tiễn để có một hướng đi đúng đắn lâu dài.

- Nhiệm vụ thứ ba là tổ chức xây dựng các nhóm nghiên cứu mạnh, tập trung nguồn lực, kết nối ý tưởng, tạo điều kiện cũng như động lực mạnh mẽ để phát triển các đề tài tầm cỡ, góp phần làm sáng tỏ lý luận và đáp ứng được nhu cầu của thực tiễn. Sự đầu tư dành cho phần lý thuyết nhiều hơn hay phần thực tiễn nhiều hơn luôn là mối quan tâm thường trực của các nhóm nghiên cứu mạnh. Chỉ có xuất phát từ những yêu cầu của thực tiễn dạy và học sinh động thì chúng ta mới có được những đầu bài xác đáng mà kết quả nghiên cứu sẽ mang lại những đóng góp rất đáng trân trọng,

- Nhiệm vụ thứ tư là tạo điều kiện và khuyến khích thành viên trong Bộ môn viết các bài báo, các báo cáo khoa học. Những nỗ lực này rất quan trọng để tạo thói quen tổng kết những suy nghĩ của mình và mạnh dạn công bố các kết quả nghiên cứu. Một Bộ môn mạnh là một Bộ môn mà số lượng các công bố khoa học được đăng tải trên các ấn phẩm ngày càng có tiếng tăm và với số lượng ngày một nhiều hơn.

- Nhiệm vụ thứ năm là tổ chức hội nghị khoa học Bộ môn, hoặc liên kết với các đơn vị bạn tổ chức hội nghị, hội thảo khoa học chung, lựa chọn các báo cáo khoa học chất lượng nhất tham gia các hội nghị khoa học cấp cao hơn. Mọi thành viên trong Bộ môn hàng năm đều phải có báo cáo để tham gia Hội nghị khoa học cấp Bộ môn, đó là một chỉ số bắt buộc.

- Nhiệm vụ thứ sáu là thường xuyên thâm nhập thực tế, tổ chức tham quan nghiên cứu thực tiễn để rút ra được từ thực tiễn đó những đề tài nghiên cưu phù hợp nhất, cập nhật nhất, những hợp đồng khoa học thuyết phục nhất.

- Nhiệm vụ thứ bảy là hướng dẫn NCKH sinh viên. Bên cạnh việc hướng dẫn các niên luận, khóa luận của sinh viên trong chương trình học, các giảng viên còn có thể hướng dẫn và hỗ trợ các em trong hoạt động tập sự làm khoa học, thành lập các câu lạc bộ khoa học, cho các em tham gia các công trình nghiên cứu của mình, thành lập các nhóm nghiên cứu trẻ trong sinh viên, giúp sinh viên hoàn thiện và công bố các nghiên cứu của mình.

Trên đây chúng tôi đã trình bày bảy nhiệm vụ chính trong giảng dạy về mặt chuyên môn, bảynhiệm vụ chính trong quản lý chuyên môn và bảy nhiệm vụ chính trong công tác NCKH của Bộ môn.

Để phát triển Bộ môn, vai trò của trưởng Bộ môn hay còn gọi là Chủ nhiệm Bộ môn rất lớn, đóng vai trò rất quan trọng, thậm chí là quyết định trong việc ổn định và phát triển Bộ môn nói chung và các nguồn lực của Bộ môn nói riêng. Nhìn một cách tổng quan, Trưởng Bộ môn cần có những năng lực chính sau đây:

- Năng lực đầu tiên là việc nhìn nhận con người. Việc đánh giá đúng nguồn lực của Bộ môn, điểm mạnh và hạn chế của từng con người trong Bộ môn đòi hỏi một con mắt “ tinh tường”, công tâm của trưởng Bộ môn. Có như vậy mới vừa phát huy được cao nhất tiềm năng, năng lực của từng cá nhân, cũng như giữ được sự đoàn kết, đồng tâm hợp lực, giữ được hòa khí chung của Bộ môn.

- Năng lực thứ hai đòi hỏi Trưởng Bộ môn phải là người, sau khi tham khảo sâu rộng ý kiến của các thành viên, quyết định về chiến lược phát triển chuyên môn của Bộ môn, các chương trình NCKH, các hướng hợp tác, liên kết trong giảng dạy và NCKH của Bộ môn.

- Năng lực thứ ba là xây dựng kế hoạch năm cho Bộ môn, cả về mặt giảng dạy và về mặt NCKH. Một kế hoạch rõ ràng, mạch lạc, hợp lý ngay từ đâu sẽ tạo điều kiện thuận lợi để các thành viên Bộ môn chủ động thực hiện kế hoạch này với hiệu quả cao nhất.

- Năng lực thứ tư là định hướng và phát triển mối quan hệ hợp tác với các tổ chức, cá nhân, các nguồn lực khoa học khác trong và ngoài trường.

- Năng lực thứ năm là quán xuyến hoạt động của Bộ môn. Muốn như vậy, Trưởng Bộ môn một mặt cần xây dựng những quy định, nề nếp làm việc của Bộ môn, mặt khác cần quan tâm hiểu rõ hoàn cảnh, tâm tư nguyện vọng, những mong muốn chính đáng của các thành viên Bộ môn để có những ứng xử hợp tình hợp lý, thuyết phục lòng người.

- Năng lực thứ sáu là cầu nối giữa cán bộ trong Bộ môn với Khoa và Trường. Phản ánh được tâm tư nguyện vọng của Bộ môn, ý chí của tập thể Bộ môn với tổ chức cấp trên sẽ tạo những cơ hội phát triển đầy đủ, toàn diện của Bộ môn, mặt khác góp phần đóng góp trí tuệ của Bộ môn với Khoa và Trường.

- Năng lực thứ bảy là thực hiện các nhiệm vụ khác mà Khoa và Trường giao cho trách nhiệm cá nhân Trưởng bộ môn.

Như đã nói ở trên, Bộ môn là tế bào chuyên môn quan trọng nhất trong một trường CĐ-ĐH. Xây dựng uy tín quản lý, tổ chức nghiên cứu khoa học và vận dụng nguồn lực hợp lý trong công tác tổ chức Bộ môn luôn đặt ra cho Trưởng các Bộ môn và các thành viên của Bộ môn những nhiệm vụ không hề dễ dàng. Chỉ có trên cơ sở nắm vững những quy định hiện hành, những nguyên tắc làm việc được thống nhất trước, trên tinh thần hợp tác cùng nhìn về một hướng để phát triển, đồng thời phát huy tiềm năng của từng cá nhân, năng động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm, một Bộ môn mới có thể vững vàng đi tới, thực hiện tốt cả hai nhiệm vụ tổ chức giảng dạy và hoạt động NCKH, vừa tạo điều kiện tốt nhất cho sự phát triển của từng thành viên trong Bộ môn, vừa đóng góp xứng đáng vào sự nghiệp chung xây dựng Khoa và Trường vững mạnh.
The administrator has disabled public write access.
Time to create page: 0.203 seconds
Wednesday the 13th . @ National Foreign Language 2020 Project. Developed by Nguyen Ngoc Vu HCMCUE. xswebdesign.com